Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2014
“Đây là Đài phát thanh giải phóng”
Từ năm 1970 , tôi là biên soạn viên của buổi phát thanh binh vận Đài tiếng nói Việt Nam tại Hà Nội. Thời kì ấy tôi viết bài cho Đài tiếng nói Việt Nam là chính , nhưng nhiều bài của tôi cũng được phát trên sóng của Đài phát thanh phóng thích. Còn từ giữa năm 1971 , tôi đã chính thức trở nên phóng viên chiến trường của Đài phát thanh phóng thích. Khi ấy , Ban biên soạn đài còn cắm sâu trong một vùng rừng tận Campuchia. Việc phát sóng không có một sự hạn chế hay một trường hợp ngoại lệ nào cả do CP90 - bộ phận Đài phóng thích nằm ở Hà Nội - gánh vác. Do hoàn cảnh chiến tranh quá khốc liệt , nên Ban biên soạn Đài phóng thích ở chiến trường chỉ gánh vác việc viết tin bài và truyền ra “đài lớn” bằng tê-lê-típ. Giữa những cơn sốt rét bạo lực , chúng ta - những phóng viên trẻ lúc ấy mới từ ngoài bắc vào hay từ dưới các thành thị vùng tạm chiếm lên chiến khu - vừa nằm dưới hầm tránh bom B52 vừa viết bài tùy theo chuyên mục của mình. Như tôi viết bài về binh vận , nhà văn Lê Điệp viết bài về thành thị , còn chị Tuyết “ròm” mới từ Sài Gòn lên sau khi đã hoạt động nội tuyến thì viết bài theo chuyên mục phụ nữ thành thị miền Nam. Mỗi người mỗi việc , bài vở khi viết xong nộp ngay cho Ban biên soạn xử lí. Phát thanh viên Đài Giải phóng: chị Tuyết Nga và chị Thanh Giang - Ảnh: T.L Tôi còn nhớ , Giám đốc Đài phóng thích hồi ấy là ông Hai Xuyên , một người đầy đặn và mộc mạc như nông dân. Có lần , ông xếp hàng anh chị em biên soạn viên và phóng viên để truyền đạt quyết nghị. Trong một khoảng rừng dày , mọi người mắc võng chung quanh thủ trưởng và vừa… ngủ vừa nghe giám đốc truyền đạt. Thỉnh thoảng , có phóng viên… ngáy g à gáy o o , ông Hai Xuyên lại sẽ sàng nhắc: Các đồng chí ngáy to quá , tôi làm sao giảng bài? Tôi hồi ấy còn rất trẻ , tính lại hồn nhiên tếu táo , nghe thế cười phá lên. Mấy phóng viên khác cũng cười theo. Ông Hai Xuyên , lạ lùng thay , cũng… cười. Chúng ta sống thật thân thiện thích nghi với môi trường mới , giữa thủ trưởng với lính gần như không có ngăn cách giả tạo nào. Tôi nhớ , bên cạnh ông Hai Xuyên , Ban biên soạn hồi ấy còn có ông Sáu Hoàng Hà , một người sắc sảo và hóm hỉnh nói giọng bắc; ông Sáu Phan quê miền Trung hay thủ thỉ rù rì; chú Tư Tịnh Đức Cùng làng với tôi thường trầm tư mặc tưởng nhưng sống rất tình cảm và có phần hơi ngờ ngạc. Họ đều là dân “hai mùa kháng chiến” và đều là các bậc thầy của chúng ta trong chuye báo chí phát thanh. Họ cũng đều là những người biên soạn rất “mát tay” , những người duyệt bài rất tinh thần nhanh nhẹn và tháo vát. Tôi nhớ , cứ chiều chiều , lúc rảnh việc , tôi và Lê Điệp với Vũ Ân Thy lại kéo nhau tới “nhà” của chú Tư Tịnh Đức tán dóc và…gạ rượu. Chẳng là chú Tư Đức luôn thủ sẵn trong bòng một chai rượu thuốc , không biết ngâm với thứ rễ cây hay lá lẩu gì , nhưng uống có… mùi cồn. Với chúng ta , vậy là “quá đã” rồi! Nếu chiều ấy chúng ta chuyện trò tâm đầu ý hợp với chú Tư Đức , ông sẽ nhẹ nhõm lôi chai rượu thuốc từ bòng ra , và mấy chú cháu nhâm nhi , mặc kệ trên nóc rừng âm i tiếng máy bay hay thỉnh thoảng rộ lên những tràng bom đâu đó. Thế cuộc lúc ấy thật vui , vui hồn nhiên , và chúng ta đã học được cách để thích ứng , thậm chí để mặc kệ tất cả những nguy hiểm đang rình rập. Một số biên soạn viên và phóng viên của đài Tôi còn nhớ một phóng viên rất trẻ hồi ấy là anh Kha Lương Ngãi , tính đầy đặn , dáng đi hơi chúi về phía trước , cứ như anh đang “vượt tường lửa” qua các vùng giáp giới. Anh Ngãi từ T4 lên , cùng với Lê Điệp nhận nhiệm vụ đi về trụ bám chiến trường T4 ( vùng ven Sài Gòn ). Một người “dân Nam kỳ” thì làm nhiều , nói ít , kinh nghiệm chiến trường đầy mình. Một người “dân Hải Phòng hiên ngang chỉ biết ngẩng đầu” thì miệng như tép nhảy , lúc nào cũng vui đùa tếu táo , nhưng “chịu chơi” và không thoái thác. Vậy là quá tốt để kết thành một “cặp đôi hoàn hảo” cho chiến trường T4 khốc liệt. Đài phóng thích hồi ấy là nơi phóng viên đến rồi đi , ít ai trụ lại lâu. Đi tới trước về các chiến trường. Năm 1972 , tôi được rút về Ban Binh vận và đi chiến trường Mỹ Tho. Lội Đồng Tháp Mười về tới nam lộ Bốn , tôi đi mất một tháng rưỡi , trong khi quãng đường ấy thể hiện trên bản đồ rất ngắn. Về các chiến trường là được trực tiếp xáp mặt chiến tranh , bài viết “có lửa” hơn , nhưng khó khăn để thực hiện và nguy hiểm cũng nhiều hơn. Thế mà chúng ta ai cũng nô nức khi được đi chiến trường. Đài phát thanh phóng thích đã thực sự là “lò” đào tạo chúng ta thành những phóng viên chiến trường thứ thiệt , và sau này là những nhà báo không đến nỗi nào. Thanh Thảo . Phát thanh viên Đài Giải phóng: chị Tuyết Nga và chị Thanh Giang - Ảnh: T.L . Một số biên soạn viên và phóng viên của đài đi sè sẽ .
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét